Ông Phong, quản lý một công ty thực phẩm, vừa bỏ ý định mua căn hộ ở quận 2, TP HCM, sau vụ cháy Carina cuối tuần qua.
Vị khách hàng này cho biết, trước đó, vợ chồng ông được môi giới chào hàng nhiều chung cư cao cấp và từng có ý định chọn mua căn hộ 4 tỷ đồng nằm dọc trên đường Song Hành cao tốc Long Thành – Dầu Giây vì vị trí thuận tiện. Theo kế hoạch việc xuống tiền giữ chỗ diễn ra trong tuần này, nhưng sau đó, hay tin hỏa hoạn tại chung cư Carina quận 8, vợ ông đã nhất quyết thay đổi ý định.
Ông Phong giải thích: “Vợ tôi nói vị trí dự án đẹp, ảnh căn hộ 3D và tiện ích rất ưng ý nhưng không đủ sức khỏe để chạy khi xảy ra cháy nổ, nên quyết định không mua”. Cuối cùng, thay vì mua chung cư, gia đình ông Phong chuyển hẳn mục tiêu sang nhà phố dù giá đắt đỏ hơn.
Trường hợp hoang mang hoặc từ bỏ ý định mua căn hộ do bị ám ảnh sau vụ cháy chung cư Carina như vợ chồng ông Phong không phải là cá biệt. Ông Nam, là kỹ sư công nghệ thông tin của một doanh nghiệp có trụ sở tại khu Nam Sài Gòn, cũng vừa từ chối mua căn hộ dù trước đó đã thống nhất giá, mã căn, số tầng, hướng cửa và view phòng khách.
Căn hộ ông Nam được chào hàng thuộc phân khúc trung cao cấp tại quận 7, giá gần 3 tỷ đồng và chỉ chờ tham dự lễ mở bán ngày 25/3 để xuống tiền mua. “Tôi đã hoãn lại kế hoạch mua căn hộ vì các thành viên trong gia đình trở nên "ác cảm" với nhà chung cư sau khi vụ cháy Carina. Mọi lời giải thích rằng đó chỉ là tai nạn cá biệt dường như không thể trấn an tâm lý mọi người trong lúc này”, ông Nam chia sẻ.
Trong vòng 3 ngày qua, tức ngay sau khi vụ hỏa hoạn xảy ra tại chung cư trên đại lộ Võ Văn Kiệt, quận 8, TP HCM, khá nhiều công ty địa ốc đã bị khách hàng "dội bom" điện thoại vì lo lắng an toàn phòng cháy chữa cháy cho căn nhà tương lai của họ.
Giám đốc bán hàng một công ty bất động sản có trụ sở tại quận 3, TP HCM tiết lộ, chỉ 24 giờ đồng hồ sau vụ cháy, khách hàng mua căn hộ đã liên tục gọi điện để yêu cầu giải thích về an toàn phòng cháy chữa cháy, mua bảo hiểm công trình, bảo hiểm từng căn nhà… họ đặt cọc mua. Số cuộc gọi nhiều đến mức nhân viên phải làm việc quá tải.
Trong khi đó, Tổng giám đốc một công ty địa ốc có trụ sở tại phía Tây Sài Gòn tiết lộ, doanh nghiệp đang bán một dự án sắp bước vào giai đoạn bàn giao nhà và một ngày sau khi vụ cháy chung cư Carina xảy ra, khách hàng tới tấp gọi điện đến văn phòng công ty để chất vấn mọi thứ về an toàn cháy nổ. Để hạ nhiệt bầu không khí căng thẳng này, doanh nghiệp thậm chí còn mời khách hàng đến dự án để được thuyết trình cụ thể về hệ thống phòng cháy chữa cháy.
Trao đổi với VnExpress, Phó tổng giám đốc điều hành Công ty Cát Tường, Lê Tiến Vũ cho biết, vụ cháy chung cư khiến 14 người chết vừa qua chắc chắn sẽ định vị lại thị trường căn hộ tại TP HCM nói riêng và trên cả nước nói chung.
Theo ông Vũ, sẽ không có gì lạ nếu xuất hiện những trường hợp khách hàng chuẩn bị mua căn hộ đột ngột chùn tay, cân nhắc lại thậm chí hủy bỏ ý định mua nhà sau vụ cháy chung cư. Nếu người mua đột nhiên quan tâm đến việc phòng cháy chữa cháy và chất vấn liên tục cũng là điều có thể hiểu được. “Tác động domino gây cú sốc tâm lý này là bình thường và thị trường sẽ có sự điều chỉnh tích cực dần theo thời gian”, ông Vũ nói.
Chuyên gia này đánh giá, áp lực sẽ rất lớn đối với các dự án đang chào bán. Bởi lẽ, ảnh hưởng tâm lý có thể khiến cho người đang có ý định mua thay đổi mục tiêu, mức xấu nhất là tẩy chay sản phẩm chỉ vì tâm lý lo ngại lây lan.
Để bán được hàng trong giai đoạn nhạy cảm này, các chủ đầu tư cần phải có cam kết mạnh mẽ. Ví dụ như: trang bị hệ thống phòng cháy chữa cháy thật tốt, hiện đại cho dự án. Bên cạnh cam kết này, doanh nghiệp có thể mở hẳn nhiều chương trình đối thoại về thiết kế tòa nhà, cách thoát hiểm khi xảy ra hỏa hoạn để người mua có hình dung cụ thể về cách ứng phó tai nạn trong căn hộ tương lai, từ đó giúp họ yên tâm hơn khi mua chung cư.
Đối với nhóm các dự án đã bàn giao và đưa vào hoạt động, chủ đầu tư và đơn vị quản lý tòa nhà cần nhanh chóng mở các buổi phổ biến kiến thức về phòng cháy chữa cháy bên trong tòa nhà. Mặt khác, hệ thống báo cháy cũng phải được kiểm tra, vận hành thường xuyên (không báo trước) để nâng cao ý thức phòng cháy.
Tổng giám đốc Công ty Việt An Hòa, Trần Khánh Quang đánh giá, trong ngắn hạn, chắc chắn thị trường căn hộ sẽ chịu tác động không tốt từ vụ cháy chung cư Carina. Chẳng hạn như thời gian tìm hiểu dự án sẽ kéo dài, thời gian giao dịch cũng lâu hơn và việc tư vấn bán hàng cũng khó khăn hơn. Thanh khoản thị trường ít nhiều bị ảnh hưởng. Người mua cũng sẽ đòi hỏi nhiều hơn ở chủ đầu tư trong việc lắp đặt, vận hành hệ thống phòng cháy chữa cháy.
Tuy nhiên, theo ông Quang, nếu xét tầm nhìn dài hạn, vụ hỏa hoạn vừa qua đang tác động tích cực đến công tác phòng cháy chữa cháy cho nhà cao tầng trong hiện tại và cả những năm tới.
Chuyên gia này nhận xét thêm, trong tất cả các phân khúc căn hộ, chung cư giá rẻ (bình dân) và trung cấp có thể chịu nhiều sức ép hơn các phân khúc cao cấp hoặc hạng sang. Bởi lẽ, phân khúc này chủ đầu tư thường tối đa hoá diện tich kinh doanh, số lượng căn hộ bố trí dày đặc trên một mặt sàn. Diện tích nhà lại nhỏ hẹp hơn căn hộ cao cấp. Hệ thống phòng cháy chữa cháy có chất lượng không cao do hạn chế về vốn. Tuy nhiên, nếu có giải pháp thiết kế nhiều khe thông gió, giúp căn hộ thông thoáng thì vẫn đảm bảo an toàn.
Theo ông Quang, về nguyên tắc, hầu hết tất cả các dự án nhà cao tầng đều được phê duyệt và nghiệm thu phòng cháy chữa cháy rất nghiêm ngặt. Phần còn lại là quá trình vận hành và hậu kiểm thường xuyên. “Vì thế, trách nhiệm thanh kiểm tra của cơ quan chức năng, của chính quyền địa phương, khả năng tổ chức tự quản của đội ngũ quản lý tòa nhà và ý thức phòng cháy chữa cháy của chính người dân đều đóng vai trò quan trọng như nhau”, ông nói.
Vũ Lê
Nguồn vnexpress.net
Link website tham khảo thêm
http://thongtintonghop.over-blog.com
http://thongtintonghop.edublogs.org
https://newstodaylives.blogspot.com
https://newstodaylives.wordpress.com
Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2019
Khí thải công nghiệp gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường
Nguồn thải công nghiệp:
Nền công nghiệp ở nước ta ngày ngày càng phát triển tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội. Các khu công nghiệp, các nhà máy mọc lên với số lượng nhiều, qui mô lớn làm thay đổi cả bộ mặt xã hội theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực, trong đó phải kể đến vấn đề ô nhiễm môi trường. Hoạt động của công nghiệp tăng cao sẽ kéo theo việc tăng chất thải vào môi trường khí. Khi lượng chất thải đủ nhiều để phá vỡ chu trình cân bằng vật chất của môi trường, làm cho môi trường bị ô nhiễm.
Nguồn thải gây ô nhiễm của các ngành công nghiệp gồm:
a.Công nghiệp năng lượng:
Công nghiệp năng lượng gồm 3 ngành chính: Điện - Than - Dầu khí
Ngành điện: ngành điện của nước ta có cơ cấu các nhà máy phát điện là:
- Thủy điện 66% là ngành không gây ô nhiễm môi trường khí nhưng tiềm ẩn khả năng biến đổi môi trường - sinh thái vùng hồ chứa nước và thủy vực vùng hạ lưu.
-Nhiệt điện: 21%
-Tuabin khí và điezen: 13%
Các nhà máy nhiệt điện dùng than làm nhiên liệu có lượng tiêu hao than từ 0,4 đến 0,8 kg/kwh. Nguồn cung cấp than là các mỏ than vùng đông bắc. Theo TS Phạm Ngọc Đăng: năm 1993 các nhà máy tiêu thụ gần 480.000 tấn than và thải ra khí quyển 6.713 tấn khí SO2; 2.724 tấn NOx; 277,9 × 103 tấn CO2 và 1491 tấn bụi. Đây là nguồn gây ô nhiễm rất lớn nhưng việc khắc phục còn rất khó khăn và tốn kém.
Các nhà máy dùng dầu F.O làm nhiên liệu chủ yếu tập trung ở phía nam như Thủ đức - Cần thơ - Hiệp phước. Nguồn khí thải chủ yếu là CO và SOx do trong dầu F.O hàm lượng lưu huỳnh rất cao (tới 3%).
Với các nhà máy dùng khí làm nhiên liệu thì nguồn gây ô nhiễm không khí chỉ là CO2, NO2.
Ngành khai thác than:
Ngành khai thác than ít có nguy cơ trực tiếp gây ô nhiễm không khí, có chăng chỉ có nguồn phát sinh bụi từ các tuyến vận chuyển, phân loại than mà thôi. Ngành này tiềm ẩn khả năng làm biến đổi môi trường - sinh thái vùng khai thác do cây cối bị triệt phá, đất đá bị đào xới…
Ngành khai thác dầu khí:
Nguồn phát thải chất ô nhiễm là việc đốt bỏ khí đồng hành và những sự cố dò rỉ khí đốt trên các tuyến vận chuyển, sử dụng.
Công nghiệp hóa chất:
Hóa chất cơ bản: chúng ta ít có nhà máy sản xuất hóa chất cơ bản lớn , nhất là ở khu vực phía nam. Nhưng có một số nhà máy công nghiệp khác có theo dây chuyền sản xuất hóa chất xút - clo trên cơ sở điện phân muối ăn. Tại những cơ sở này, hơi Clo được thải bỏ tự do vào không khí là một nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
Tham khảo thêm bài viết công ty xử lý khói mùi công nghiệp đạt chuẩn nhất https://xulykhithaidaithanh.com/may-xu-ly-bui-khoi-mui-cong-nghiep.html
Tùy theo các dạng sản phẩm làm ra mà các cơ sở sản xuất hóa chất cơ bản có chất thải làm ô nhiễm môi trường khí. Ví dụ: SO2 từ công nghệ sản xuất acide sunfuric; clo từ công nghệ điện phân muối ăn.
Phân hóa học: nguồn ô nhiễm lớn nhất tại các nhà máy phân hóa học là bụi, sau đó là hơi SO2 và fluo nếu là dây chuyền sản xuất super lân, hay NH3, CO2 nếu là sản xuất phân đạm.
Thuốc trừ sâu: các nhà máy thuốc trừ sâu ở nước ta có hai dạng chính là thuốc trừ sâu dạng lỏng và rắn. Ở các nhóm clo hữu cơ và lân hữu cơ là loại có độc tính cao. Trong quá trình pha chế, đóng gói thành phẩm, có hơi thuốc trừ sâu bay hơi vào không khí gây ô nhiễm môi trường khí. Ngoài ra phải kể tới bụi ở các dây chuyền sản xuất thuốc bột và hột bay vào môi trường không khí. Tuy khối lượng không nhiều nhưng khí thải của các xí nghiệp này rất độc hại nên cần đặc biệt chú ý.
Công nghiệp luyện kim:
Cả nước chỉ có một nhà máy luyện gang từ quặng sắt ở Thái nguyên, nhà máy này vừa luyện gang và luyện cốc, khí thải của nhà máy chứa nhiều CO, CO2, CyHx, SOx, NH3 và bụi…Hiện nay nhà máy sản xuất với năng suất rất thấp.
Thường gặp nhất là lò luyện thép Hồ quang ở cả miền nam và miền bắc. Khi hoạt động, lò luyện thường làm ô nhiễm khu xung quanh vì khói bụi của quá trình sản xuất. Trong khí thải của lò, lượng CO cho tới 15% – 20% (thể tích); H2 chiếm 0.5% - 35%.Tải lượng bụi trung bình tính theo thành phẩm là 6-9Kg/tấn thép hay 3~10g/m3 khí thải. Thành phần chủ yếu của bụi là oxýt sắt, ngoài ra còn có oxít măng gan, canxi, ma nhê… Đây đang là nguồn gây ô nhiễm đáng kể nhất ở các khu công nghiệp, chưa kể tới trong các nhà máy này còn có các lò nung đốt dầu FO thải ra môi trường các loại khí độc hại đặc trưng.
Cùng ở dạng này ta còn gặp các lò sản xuất đất đèn, đá mài…Cũng là loại lò nung dùng hồ quang điện.
Chúng ta còn phải chú ý đến khí thải của hàng trăm cơ sở nấu đúc kim loại nằm trong khu vực dân cư .Các loại lò này thường dùng dầu FO và than đá làm nhiên liệu,nấu lại kim loại và phế liệu nên khói thải của các cơ sở thường làm ô nhiễm khu vực xung quanh.
Công nghiệp vật liệu xây dựng:
Sản xuất xi măng: Hiện chúng ta đang có rất nhiều nhà máy sản xuất xi măng. Bao gồm hai công nghệ chính là xi măng lò đứng công suất thấp, chất lượng thấp, sản xuất thô sơ và xi măng lò quay có công suất và chất lượng cao. Khí thải từ lò nung xi măng có hàm lượng bụi, CO, CO2, Fluor rất cao và cỏ khả năng gây ô nhiễm nếu không được kiểm soát tốt. Hiện tại, vấn đề ô nhiễm môi trường do bụi và khói ở một vài nhà máy xi măng vẫn đang chưa được giải quyết.
Sản xuất gạch đất nung:
Tại các cơ sở công nghiệp lớn, gạch đất nung trong các lò tuy-nen dùng nhiên liệu là dầu DO hay FO, các nhà máy này phát thải vào không khí chất gây ô nhiễm do đốt dầu vẫn đang tồn tại, còn chưa được giải quyết triệt để. Chất gây ô nhiễm là tro bụi, CO2, SOx.
Tại các lò gạch thủ công dùng trấu, củi, than làm ô nhiên liệu,do đặc tính công suất nhỏ, ở rải rác nên khí thải chứa tro bụi, CO2 ảnh hưởng tới các nhà dân lân cận. Khi tập trung thành các làng nghề thì vấn đề sẽ trở nên bức xúc hơn.
Sản xuất gạch gốm, đồ gốm sứ:
Các nhà máy sản xuất gạch ceramic có nguồn phát thải lớn chất gây ô nhiễm vào không khí là tháp sấy Kaolin và lò nung. Trong khí thải thường chứa: CO, CO2, Fluor, SOx…
Lò nung thải khí thải đốt nhiên liệu dầu mỏ trừ các xí nghiệp có lò nung dùng gaz.
Bụi từ dây chuyền cân trộn nghiền cao line và phụ gia.
Xem thêm bài viết thiết bị xử lý mùi nhà máy https://xulykhithaidaithanh.com/thiet-bi-xu-ly-mui-nha-may.html
Khí thải chất ô nhiễm từ lò đốt:
Lò đốt nhiên liệu là tên gọi chung cho tất cả các loại như lò hơi, lò nung, lò rèn, buồng sấy…dùng để đốt nhiên liệu rắn hay lỏng lấy nhiệt lượng phục vụ cho nhu cầu sản xuất, đời sống. Quá trình cháy trong lò sẽ sinh ra khí thải có nồng độ CO2, CO, SOx, NOx và tro bụi. Tùy theo đặc điểm của mục đích sử dụng mà khí thải của lò đốt còn mang theo các chất ô nhiễm đặc trưng khác. Khi tính toán lắp dựng lò đốt và ống thải không hợp lý, khí thải lò đốt sẽ làm ô nhiễm không khí vùng lân cận dưới chiều gió.
Cần phải có sự chú ý đặc biệt tới lò đốt rác thải vì ngoài khí thải do cháy nhiên liệu còn có khí thải do các thành phần của rác cháy hay bốc hơi vào khí thải.
Ô nhiễm giao thông:
Cùng với đà phát triển của công nghiệp hóa, số lượng các phương tiện giao thông ngày càng nhiều. Vì vậy trên các tuyến giao thông đông đúc ở các đô thị thường xuất hiện vấn đề ô nhiễm không khí do bụi và khí thải của xe có động cơ gây ra. Đặc điểm của loại khí thải này là nguồn thải thấp, di động và không đều. Ở các tuyến có mật độ lưu thông cao khí thải hợp lại thành nguồn phát thải theo tuyến làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường hai bên đường. Những chất ô nhiễm đặc trưng của khí thải giao thông là bụi, CO, CyHx, SOx, chì, CO2 và Nox , Benzen.
Nguồn: voer.edu.vn
Nguồn website tham khảo thêm
https://newstodaylives.wordpress.com
https://newstodaylives.wordpress.com
http://thongtintonghop.over-blog.com
https://thanhtunggc.blog.fc2.com
Nền công nghiệp ở nước ta ngày ngày càng phát triển tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội. Các khu công nghiệp, các nhà máy mọc lên với số lượng nhiều, qui mô lớn làm thay đổi cả bộ mặt xã hội theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực, trong đó phải kể đến vấn đề ô nhiễm môi trường. Hoạt động của công nghiệp tăng cao sẽ kéo theo việc tăng chất thải vào môi trường khí. Khi lượng chất thải đủ nhiều để phá vỡ chu trình cân bằng vật chất của môi trường, làm cho môi trường bị ô nhiễm.
Nguồn thải gây ô nhiễm của các ngành công nghiệp gồm:
a.Công nghiệp năng lượng:
Công nghiệp năng lượng gồm 3 ngành chính: Điện - Than - Dầu khí
Ngành điện: ngành điện của nước ta có cơ cấu các nhà máy phát điện là:
- Thủy điện 66% là ngành không gây ô nhiễm môi trường khí nhưng tiềm ẩn khả năng biến đổi môi trường - sinh thái vùng hồ chứa nước và thủy vực vùng hạ lưu.
-Nhiệt điện: 21%
-Tuabin khí và điezen: 13%
Các nhà máy nhiệt điện dùng than làm nhiên liệu có lượng tiêu hao than từ 0,4 đến 0,8 kg/kwh. Nguồn cung cấp than là các mỏ than vùng đông bắc. Theo TS Phạm Ngọc Đăng: năm 1993 các nhà máy tiêu thụ gần 480.000 tấn than và thải ra khí quyển 6.713 tấn khí SO2; 2.724 tấn NOx; 277,9 × 103 tấn CO2 và 1491 tấn bụi. Đây là nguồn gây ô nhiễm rất lớn nhưng việc khắc phục còn rất khó khăn và tốn kém.
Các nhà máy dùng dầu F.O làm nhiên liệu chủ yếu tập trung ở phía nam như Thủ đức - Cần thơ - Hiệp phước. Nguồn khí thải chủ yếu là CO và SOx do trong dầu F.O hàm lượng lưu huỳnh rất cao (tới 3%).
Với các nhà máy dùng khí làm nhiên liệu thì nguồn gây ô nhiễm không khí chỉ là CO2, NO2.
Ngành khai thác than:
Ngành khai thác than ít có nguy cơ trực tiếp gây ô nhiễm không khí, có chăng chỉ có nguồn phát sinh bụi từ các tuyến vận chuyển, phân loại than mà thôi. Ngành này tiềm ẩn khả năng làm biến đổi môi trường - sinh thái vùng khai thác do cây cối bị triệt phá, đất đá bị đào xới…
Ngành khai thác dầu khí:
Nguồn phát thải chất ô nhiễm là việc đốt bỏ khí đồng hành và những sự cố dò rỉ khí đốt trên các tuyến vận chuyển, sử dụng.
Công nghiệp hóa chất:
Hóa chất cơ bản: chúng ta ít có nhà máy sản xuất hóa chất cơ bản lớn , nhất là ở khu vực phía nam. Nhưng có một số nhà máy công nghiệp khác có theo dây chuyền sản xuất hóa chất xút - clo trên cơ sở điện phân muối ăn. Tại những cơ sở này, hơi Clo được thải bỏ tự do vào không khí là một nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
Tham khảo thêm bài viết công ty xử lý khói mùi công nghiệp đạt chuẩn nhất https://xulykhithaidaithanh.com/may-xu-ly-bui-khoi-mui-cong-nghiep.html
Tùy theo các dạng sản phẩm làm ra mà các cơ sở sản xuất hóa chất cơ bản có chất thải làm ô nhiễm môi trường khí. Ví dụ: SO2 từ công nghệ sản xuất acide sunfuric; clo từ công nghệ điện phân muối ăn.
Phân hóa học: nguồn ô nhiễm lớn nhất tại các nhà máy phân hóa học là bụi, sau đó là hơi SO2 và fluo nếu là dây chuyền sản xuất super lân, hay NH3, CO2 nếu là sản xuất phân đạm.
Thuốc trừ sâu: các nhà máy thuốc trừ sâu ở nước ta có hai dạng chính là thuốc trừ sâu dạng lỏng và rắn. Ở các nhóm clo hữu cơ và lân hữu cơ là loại có độc tính cao. Trong quá trình pha chế, đóng gói thành phẩm, có hơi thuốc trừ sâu bay hơi vào không khí gây ô nhiễm môi trường khí. Ngoài ra phải kể tới bụi ở các dây chuyền sản xuất thuốc bột và hột bay vào môi trường không khí. Tuy khối lượng không nhiều nhưng khí thải của các xí nghiệp này rất độc hại nên cần đặc biệt chú ý.
Công nghiệp luyện kim:
Cả nước chỉ có một nhà máy luyện gang từ quặng sắt ở Thái nguyên, nhà máy này vừa luyện gang và luyện cốc, khí thải của nhà máy chứa nhiều CO, CO2, CyHx, SOx, NH3 và bụi…Hiện nay nhà máy sản xuất với năng suất rất thấp.
Thường gặp nhất là lò luyện thép Hồ quang ở cả miền nam và miền bắc. Khi hoạt động, lò luyện thường làm ô nhiễm khu xung quanh vì khói bụi của quá trình sản xuất. Trong khí thải của lò, lượng CO cho tới 15% – 20% (thể tích); H2 chiếm 0.5% - 35%.Tải lượng bụi trung bình tính theo thành phẩm là 6-9Kg/tấn thép hay 3~10g/m3 khí thải. Thành phần chủ yếu của bụi là oxýt sắt, ngoài ra còn có oxít măng gan, canxi, ma nhê… Đây đang là nguồn gây ô nhiễm đáng kể nhất ở các khu công nghiệp, chưa kể tới trong các nhà máy này còn có các lò nung đốt dầu FO thải ra môi trường các loại khí độc hại đặc trưng.
Cùng ở dạng này ta còn gặp các lò sản xuất đất đèn, đá mài…Cũng là loại lò nung dùng hồ quang điện.
Chúng ta còn phải chú ý đến khí thải của hàng trăm cơ sở nấu đúc kim loại nằm trong khu vực dân cư .Các loại lò này thường dùng dầu FO và than đá làm nhiên liệu,nấu lại kim loại và phế liệu nên khói thải của các cơ sở thường làm ô nhiễm khu vực xung quanh.
Công nghiệp vật liệu xây dựng:
Sản xuất xi măng: Hiện chúng ta đang có rất nhiều nhà máy sản xuất xi măng. Bao gồm hai công nghệ chính là xi măng lò đứng công suất thấp, chất lượng thấp, sản xuất thô sơ và xi măng lò quay có công suất và chất lượng cao. Khí thải từ lò nung xi măng có hàm lượng bụi, CO, CO2, Fluor rất cao và cỏ khả năng gây ô nhiễm nếu không được kiểm soát tốt. Hiện tại, vấn đề ô nhiễm môi trường do bụi và khói ở một vài nhà máy xi măng vẫn đang chưa được giải quyết.
Sản xuất gạch đất nung:
Tại các cơ sở công nghiệp lớn, gạch đất nung trong các lò tuy-nen dùng nhiên liệu là dầu DO hay FO, các nhà máy này phát thải vào không khí chất gây ô nhiễm do đốt dầu vẫn đang tồn tại, còn chưa được giải quyết triệt để. Chất gây ô nhiễm là tro bụi, CO2, SOx.
Tại các lò gạch thủ công dùng trấu, củi, than làm ô nhiên liệu,do đặc tính công suất nhỏ, ở rải rác nên khí thải chứa tro bụi, CO2 ảnh hưởng tới các nhà dân lân cận. Khi tập trung thành các làng nghề thì vấn đề sẽ trở nên bức xúc hơn.
Sản xuất gạch gốm, đồ gốm sứ:
Các nhà máy sản xuất gạch ceramic có nguồn phát thải lớn chất gây ô nhiễm vào không khí là tháp sấy Kaolin và lò nung. Trong khí thải thường chứa: CO, CO2, Fluor, SOx…
Lò nung thải khí thải đốt nhiên liệu dầu mỏ trừ các xí nghiệp có lò nung dùng gaz.
Bụi từ dây chuyền cân trộn nghiền cao line và phụ gia.
Xem thêm bài viết thiết bị xử lý mùi nhà máy https://xulykhithaidaithanh.com/thiet-bi-xu-ly-mui-nha-may.html
Khí thải chất ô nhiễm từ lò đốt:
Lò đốt nhiên liệu là tên gọi chung cho tất cả các loại như lò hơi, lò nung, lò rèn, buồng sấy…dùng để đốt nhiên liệu rắn hay lỏng lấy nhiệt lượng phục vụ cho nhu cầu sản xuất, đời sống. Quá trình cháy trong lò sẽ sinh ra khí thải có nồng độ CO2, CO, SOx, NOx và tro bụi. Tùy theo đặc điểm của mục đích sử dụng mà khí thải của lò đốt còn mang theo các chất ô nhiễm đặc trưng khác. Khi tính toán lắp dựng lò đốt và ống thải không hợp lý, khí thải lò đốt sẽ làm ô nhiễm không khí vùng lân cận dưới chiều gió.
Cần phải có sự chú ý đặc biệt tới lò đốt rác thải vì ngoài khí thải do cháy nhiên liệu còn có khí thải do các thành phần của rác cháy hay bốc hơi vào khí thải.
Ô nhiễm giao thông:
Cùng với đà phát triển của công nghiệp hóa, số lượng các phương tiện giao thông ngày càng nhiều. Vì vậy trên các tuyến giao thông đông đúc ở các đô thị thường xuất hiện vấn đề ô nhiễm không khí do bụi và khí thải của xe có động cơ gây ra. Đặc điểm của loại khí thải này là nguồn thải thấp, di động và không đều. Ở các tuyến có mật độ lưu thông cao khí thải hợp lại thành nguồn phát thải theo tuyến làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường hai bên đường. Những chất ô nhiễm đặc trưng của khí thải giao thông là bụi, CO, CyHx, SOx, chì, CO2 và Nox , Benzen.
Nguồn: voer.edu.vn
Nguồn website tham khảo thêm
https://newstodaylives.wordpress.com
https://newstodaylives.wordpress.com
http://thongtintonghop.over-blog.com
https://thanhtunggc.blog.fc2.com
Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019
Dong Nai, a leader in support industry development
(VEN) - As one of the biggest provinces in Vietnam in terms of industrial development and foreign direct investment (FDI), Dong Nai is striving to develop support industries into a powerful economic sector by 2020.
Developed support industries are expected to help Dong Nai maintain export growth and a trade
By the end of 2016, the southeastern province was home to nearly 300 support industry enterprises, contributing about 25 percent to the province’s total industrial production value. This has resulted in a high export surplus of US$2.1 billion, ranking Dong Nai fourth among provinces and cities nationwide.
See more: Factory For Lease Dong Nai https://www.pdreal.com/property/factory-for-rent-in-dong-nai
Many foreign-invested enterprises have chosen Dong Nai to develop large-scale support industry projects, including the US$660-million Hyosung Dong Nai Co. from Turkey (fabric production); the US$160-million Kenda Corporation from Chinese Taipei (rubber tires and tubes), and more. Over the past three years, Dong Nai has attracted many small to medium-sized Japanese enterprises that have invested in support industries.
According to the Japanese Business Association of Ho Chi Minh City (JBAH), Vietnam has signed 10 plus free trade agreements (FTAs), under which producers must use domestic materials to enjoy export tax incentives. Therefore, JBAH views linking Japanese and Vietnam companies in support industry development is a priority.
Driving force
Dong Nai signed framework agreements on economic cooperation with some strong localities in Japan, the Republic of Korea (RoK), the US, and Chinese Taipei. Under these agreements, the sides are to review support policies and cooperation in training for Dong Nai’s industry, especially its support industries.
See more: Factory for rent Ho Chi Minh https://www.pdreal.com
Dong Nai intends to pave the way for small to medium-sized enterprises (SMEs) to access land and preferential tax and credit policies, and strengthen joint ventures, connectivity and technology transfer. The province will also assist enterprises in finding markets for their products by building support industry enterprise databases, and regularly holding meetings with enterprises and branding programs to link support enterprises with other businesses.
Support industries are expected to grow nine percent per year from 2016 to 2020, contributing between 25 to 35 percent to the province’s industrial labor force, export revenue, and industrial production value.
Thanh Thanh
Source: ven.vn
http://thongtintonghop.over-blog.com/binh-duong-tightens-real-estate.html
http://publish.lycos.com/thongtintonghop/binh-duong-tightens-real-estate/
http://thongtintonghop.edublogs.org/2019/04/04/binh-duong-tightens-real-estate/
https://twitter.com/thanhtungtw
https://www.reddit.com/user/thanhtunggc
Developed support industries are expected to help Dong Nai maintain export growth and a trade
By the end of 2016, the southeastern province was home to nearly 300 support industry enterprises, contributing about 25 percent to the province’s total industrial production value. This has resulted in a high export surplus of US$2.1 billion, ranking Dong Nai fourth among provinces and cities nationwide.
See more: Factory For Lease Dong Nai https://www.pdreal.com/property/factory-for-rent-in-dong-nai
Many foreign-invested enterprises have chosen Dong Nai to develop large-scale support industry projects, including the US$660-million Hyosung Dong Nai Co. from Turkey (fabric production); the US$160-million Kenda Corporation from Chinese Taipei (rubber tires and tubes), and more. Over the past three years, Dong Nai has attracted many small to medium-sized Japanese enterprises that have invested in support industries.
According to the Japanese Business Association of Ho Chi Minh City (JBAH), Vietnam has signed 10 plus free trade agreements (FTAs), under which producers must use domestic materials to enjoy export tax incentives. Therefore, JBAH views linking Japanese and Vietnam companies in support industry development is a priority.
Driving force
Dong Nai signed framework agreements on economic cooperation with some strong localities in Japan, the Republic of Korea (RoK), the US, and Chinese Taipei. Under these agreements, the sides are to review support policies and cooperation in training for Dong Nai’s industry, especially its support industries.
See more: Factory for rent Ho Chi Minh https://www.pdreal.com
Dong Nai intends to pave the way for small to medium-sized enterprises (SMEs) to access land and preferential tax and credit policies, and strengthen joint ventures, connectivity and technology transfer. The province will also assist enterprises in finding markets for their products by building support industry enterprise databases, and regularly holding meetings with enterprises and branding programs to link support enterprises with other businesses.
Support industries are expected to grow nine percent per year from 2016 to 2020, contributing between 25 to 35 percent to the province’s industrial labor force, export revenue, and industrial production value.
Thanh Thanh
Source: ven.vn
http://thongtintonghop.over-blog.com/binh-duong-tightens-real-estate.html
http://publish.lycos.com/thongtintonghop/binh-duong-tightens-real-estate/
http://thongtintonghop.edublogs.org/2019/04/04/binh-duong-tightens-real-estate/
https://twitter.com/thanhtungtw
https://www.reddit.com/user/thanhtunggc
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


